MÔN HĐTN LỚP 2
1. Cấu trúc SGK HĐTN 2:
HĐTN 2 là một môn học có bốn mạch nội dung lớn mà Chương
trình quy định: Hoạt động hướng vào bản thân; hoạt động hướng đến xã hội; hoạt
động hướng đến tự nhiên; hoạt động hướng nghiệp.
Các mạch nội dung này được triển khai trong
9 chủ đề cụ thể là: Khám phá bản thân, Rèn nếp sống, Em yêu trường em, Tự
phục vụ bản thân, Gia đình thân thương, Tự chăm sóc và bảo vệ bản thân, Chia sẻ
cộng đồng, Môi trường quanh em, Em tìm hiểu nghề nghiệp. Cách làm này tạo
được mạch hoạt động mạch lạc, dễ theo dõi khiến HS dễ nhớ thông điệp, dễ vận
dụng các kĩ năng, kiến thức mới vào thực tế.
2. Cấu trúc mỗi chủ đề trải
nghiệm được thể hiện trong SGK HĐTN2:
- Tên chủ đề : được tách ra từ bốn mạch nội dung lớn
của Chương trình để dễ dàng đáp ứng linh hoạt các mục tiêu, yêu cầu cần đạt đề
ra.
- Mục tiêu chủ đề: yêu cầu cần đạt của các mạch nội dung mà chương trình quy
định.
- Các tuần hoạt động trải nghiệm có nội dung đáp
ứng mục tiêu đã đề ra. Mỗi tuần đều có 3 loại hình HĐTN(phân bố trong 3 tiết):
SHDC, HĐGDTCĐ, SHL
- Tự đánh giá sau chủ đề: HS tự đánh giá kết quả HĐTN ở mức độ thường xuyên.
3.
Thời lượng hoạt động của mỗi loại hình HĐTN trong chương trình.
Theo quy định của Chương trình, HĐTN bao gồm 4 loại hình chính và thời
lượng phân bổ như sau:
+ 35 tiết Sinh hoạt dưới cờ (SHDC) –
nhóm lớn, quy mô trường. Ở loại hình này, nội dung sinh hoạt sẽ do Nhà trường sắp xếp, chỉ đạo cho phù hợp với nội
dung giáo dục của nhà trường và địa phương, đồng thời, nhà trường phân công GV tổng phụ trách Đội hoặc GV và tập thể lớp thiết
kế kịch bản và dẫn dắt. Chính vì thế, nội dung đề xuất trong SGK chỉ là gợi ý,
không bắt buộc. HS lớp tham gia dẫn dắt, chia sẻ trước toàn trường.
+ 35 tiết Hoạt động giáo dục theo chủ đề (HĐGDTCĐ) –
nhóm lớn, quy mô lớp học. Ở loại hình này, GV chủ nhiệm lớp sẽ
chủ động thiết kế hoạt động dựa theo gợi ý của SHS và SGV, tiến hành thực hiện
trên lớp. HS làm việc dưới sự hướng dẫn của GV, đồng thời lựa chọn và nhận
nhiệm vụ Hoạt động sau giờ học (HĐSGH) –
những HĐ thực hiện cá nhân hoặc với sự tham gia, hỗ trợ của người thân.
+ 35 tiết Sinh hoạt lớp (SHL): GV chủ nhiệm
chủ động đưa nội dung HĐTN vào nội dung SHL sao cho nhuần nhuyễn, phù hợp với
công việc tổng kết tuần của lớp. Thông thường, SHL sẽ bao gồm HĐ tổng kết tuần;
HĐ phản hồi, chia sẻ những trải nghiệm từ tiết trước và một hoạt động nhóm (quy
mô nhóm, tổ, lớp).
+ Loại hình HĐTN theo các Câu lạc bộ HS (CLB HS)
với quy mô lớp học, nhóm lớp học, được tiến hành linh hoạt tuỳ theo điều kiện mỗi
trường và là hoạt động ngoài giờ, vì thế, không đưa nội dung này vào SHS mà mô
tả, hướng dẫn triển khai trong SGV.
3. Mối liên hệ giữa các loại hình
HĐTN: Sinh hoạt dưới cờ (SHDC), Hoạt động giáo dục theo chủ đề (HĐGDTCĐ) và
Sinh hoạt lớp (SHL)
SHDC được thể hiện trong HĐTN 2 có ý nghĩa định hướng cho các loại hình
HĐTN tiếp theo trong tuần với cùng một nội dung, một chủ đề thống nhất. Những
đề xuất được trình bày như vậy là để nhà trường, thầy cô dễ dàng lựa chọn cho
HĐ thực tế của mình. Nội dung này không bắt buộc, chỉ là gợi ý.
HĐGDTCĐ và SHL là cặp đôi tiết HĐTN không tách rời trong một tuần. Những
cảm xúc được thể nghiệm, kiến thức mới và kĩ năng mới được khái quát ở tiết
HĐGDTCĐ và các ứng dụng chủ động vào HĐ sau giờ học sẽ được chia sẻ, phản hồi ở
SHL. HĐ nhóm trong tiết SHL giúp củng cố thêm các kết quả trải nghiệm của tiết
trước, tạo thêm động lực để HS tiếp tục hành động để tiếp tục rèn luyện phẩm
chất và năng lực đã và đang được hình thành thông qua các HĐTN.
4. Vai trò chủ động của giáo viên trong quá trình sử dụng SGK: quyền
linh hoạt lựa chọn nội dung và hình thức hoạt động.
Tác giả sách giáo khoa có quan điểm“mở” - khuyến khích sự chủ
động, sáng tạo, linh hoạt của GV trong việc thiết kế và tổ chức
hoạt động tuỳ theo trình độ và đặc điểm khác biệt của HS, năng lực
và sở trường của GV, phù hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, xã
hội và nội dung giáo dục của vùng, miền, địa phương; phù hợp với
thời lượng hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có
của nhà trường, lớp học.
GV được chủ động lựa chọn hoặc thay đổi:
+ Thứ tự chủ đề hoặc thứ tự các nội dung nhỏ của chủ đề phù
hợp với nội dung giáo dục của nhà trường, địa phương và đặc điểm tập thể HS
trên thực tế. Ví dụ, nếu trong thực tế, trong tập thể HS của lớp đang có hiện
tượng căng thẳng trong các mối quan hệ bạn bè, chưa biết giải quyết mâu thuẫn,
GV có thể ưu tiên đưa nội dung “Tìm sự trợ giúp để giữ gìn tình bạn” lên trước
để giúp HS vượt qua thử thách có thật trong cuộc sống học đường;
+ Hình thức hoạt động nằm trong một phương thức HĐ chung.
Ví dụ, cùng là phương thức sân khấu, thể nghiệm, tương tác, SGK gợi ý HĐ hát,
đọc thơ, GV có thể thay thế bằng HĐ trình diễn tiểu phẩm;
+ Phương thức HĐ. Tùy vào trình độ nhận thức của HS của
lớp, GV có thể đưa ra HĐ thay thế từ phương thức này sang phương thức khác, từ
đó có HĐ thay thế. Ví dụ, có thể sử dụng HĐ thí nghiệm thay thế HĐ trò chơi nếu
có điều kiện.
+ Không gian sư phạm. GV linh hoạt quyết định về không gian sư phạm phù hợp
để tiến hành HĐTN tùy nội dung mình đã lựa chọn và điều kiện thời tiết, cảm xúc
của HS: trong lớp học, trên sân trường, hành lang, phòng chức năng (thư viện,
phòng truyền thống…), phòng y tế, bếp ăn, trong vườn trường (nếu có) hoặc cùng
cây cối trên sân trường, cổng trường, góc phố gần trường.
5. Sách thiết kế đa dạng hình thức và phương pháp tổ chức HĐ.
Trong SHĐTN 2, việc đa dạng hoá các hình thức, phương thức và phương pháp
tổ chức hoạt động sẽ tạo động lực tham gia cho HS, đồng thời giúp HS chủ động
thực hiện các nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu vào lớp, giúp rèn luyện năng lực
tự chủ, tự học, hợp tác, lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch của HS.
Sách thiết kế các HĐTN theo 4 phương thức tổ chức chính được nhắc tới
trong Chương trình. Đó là Phương thức khám phá; Phương thức thể nghiệm, tương
tác; Phương thức cống hiến; Phương thức nghiên cứu. Từ các phương thức này, ta
lựa chọn các hình thức HĐ tương ứng:
+ Quan sát
+ Dự đoán, đặt câu hỏi khám phá
+ Thí nghiệm, thực nghiệm
+ Thảo luận, phỏng vấn
+ Kể chuyện, diễn tiểu phẩm, đọc thêm
thông tin, đọc thơ tương tác, múa hát, nhảy dân vũ
+ Vẽ tranh
+ Viết hoặc vẽ một thông điệp
+ Lập sơ đồ tư duy, làm ngôi sao
thông tin
+ Trò chơi giáo dục
+ Sắm vai để xử lí tình huống
+ Giao lưu nhân vật
+ Sưu tầm đồ vật, sưu tầm bài hát,
câu ca dao
+ Dự án chung của nhóm, của tổ
Các dạng nhiệm vụ đưa ra cũng rất đa dạng: nhiệm vụ dành cho cá nhân;
nhiệm vụ dành cho cặp đôi; nhiệm vụ dành cho hoạt động nhóm; nhiệm vụ dành cho
cả lớp.